LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cách đây 90 năm, ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đây là sự kiện lịch sử trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

1.      Bối cảnh lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

Bối cảnh quốc tế

Từ cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản vừa tăng cường bóc lột nhân lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã “thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất”, là ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản vào tháng 3/1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bối cảnh trong nước

Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm chiếm Việt Nam. Triều dình nhà Nguyễn bất lực đã dần dần nhân nhượng quân xâm lược và từ năm 1884, Pháp thiết lập chế độ bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”.

Về chính trị,  Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên chế, tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đàn áp đẫm máu các phong trào yêu nước. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị riêng.

Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền, bóc lột tàn bạo nhân dân ta. Chúng đặt hàng tram thứ thuế vô lý đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng, làm cho nền kinh tế bị què quặt, để lại hậu quả nghiêm trọng và kéo dài.

Về văn hóa – xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hóa nô dịch, kìm hãm nhân dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự cai trị của chúng.

Quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi, bên cạnh các giai cấp đã có trong xã hội phong kiến, xuất hiện hai giai cấp mới, đó là: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa toàn thể  dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; mâu thuẫn giữa nhân dân mà chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai. Trong đó, mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu nhất. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam là đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.

Ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, các phong trào kháng chiến của quần chúng dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước nổ ra ở khắp mọi nơi nhưng cuối cùng đều thất bại. Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến,  phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều rơi vào bế tắc do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết. Các mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng như “trong đêm tối không có đường ra”

2.      Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 05/06/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nơi trên thế giới và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Luận cương đã giải đáp cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự do thực sự cho dân tộc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân  tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam. Trở thành chiến sĩ cộng sản, Người đã tích cực tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thuộc địa. Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trug Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tại đây, Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường kách mệnh (1927)… nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác Lênin vào trong nước. Người tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.

Chủ nghĩa Mác – Lênin và tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “người đi đường đang khát mà có nước  uống, đang đói mà có cơm ăn”; làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, ở nước ta, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập: Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ (17/06/1929). An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ (tháng 11/1929). Đông Dương Cộng sản liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ (01/01/1930). Tuy nhiên, ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Yêu cầu bức thiết của cách mạng đặt ra là cần thống nhất thành một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Trước bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra triệu tập và chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có quyền quyết định mọi vấn đề về phong trào cách mạng ở Đông Dương.

Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt; Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết định lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

3.      Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là kết quả của quá trình lựa chọn, sang lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ  cách mạng, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc.

Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất  yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, cả dân tộc vùng dậy, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước (1945 – 1975). Từ năm 1975 đến nay, Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.

Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng: Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Suốt 90 năm qua, Đảng là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc.

                                                                                                   GV: Đặng Thị Vân